Y học cổ truyền điều trị Liệt thần kinh số VII ngoại biên

I. Y HỌC HIỆN ĐẠI

Liệt mặt hay còn gọi là liệt dây thần kinh số 7, liệt Bell, là một bệnh thần kinh ngoại biên không rõ nguyên nhân. Đây là tình trạng một bên cơ mặt trở nên yếu hoặc chảy xệ xuống do dây thần kinh điều khiển cho cơ mặt bị tổn thương hoặc mất chức năng. Hầu hết bệnh nhân liệt mặt có thể hồi phục hoàn toàn, nhưng cũng có một số người phải mang di chứng suốt cuộc đời. Liệt mặt hai bên rất hiếm gặp với tỷ lệ chỉ 0,3-2% các bệnh liệt trên khuôn mặt.

  1. Nguyên nhân và các yếu tố nguy cơ gây bệnh liệt mặt

Căn nguyên của bệnh liệt mặt hiện vẫn chưa được xác định cụ thể, song thiếu máu cục bộ mạch máu, mắc bệnh tự miễn hoặc nhiễm virus, đặc biệt là nhóm virus herpes tiềm ẩn (herpes simplex, herpes zoster) được coi là nguyên nhân phổ biến.

Các vi rút có liên quan đến bệnh liệt Bell bao gồm các vi rút gây ra:

  • Biểu hiện của bệnh liệt mặt

Dây thần kinh mặt không chỉ chi phối các các cơ vận động vùng mặt hàm, mà còn chi phối các cơ hoạt động không tự chủ bên trong của tuyến lệ, tuyến dưới hàm, cảm giác đến một phần của tai và vị giác cho 2/3 phía trước của lưỡi. Vì vậy, khi bị liệt mặt, tất cả các bộ phận liên quan đến các sợi thần kinh này đều bị ảnh hưởng và có thể xuất hiện các dấu hiệu bao gồm:

  • Khô mắt, tuyến lệ hoạt động kém, sụp mí hoặc không thể nhắm hay nháy mắt
  • Miệng chảy dãi hoặc không thể khép miệng, khó mỉm cười
  • Dị cảm vùng trán, vùng khóe miệng
  • Đau quanh tai, thái dương, xương chũm, góc hàm
  • Thay đổi vị giác
  • Nhạy cảm với âm thanh
  • Rối loạn nhai nuốt hoặc lời nói
  • Trường hợp liệt mặt do nhiễm trùng herpes simplex hoặc zoster, người bệnh còn bị đau dữ dội, sau đó có thể xuất hiện mụn nước và tiến triển thành hội chứng Ramsay-Hunt. Hội chứng Ramsay-Hunt đặc trưng bởi các mụn nước ở vòm miệng hoặc lưỡi do rối loạn chức năng tiền đình-ốc tai gây ra.
  1. Chẩn đoán bệnh liệt mặt
  2. Biểu hiện lâm sàng
  • Quan sát sự bất đối xứng ở khuôn mặt
  • Nhắm mắt bên liệt không kín, mất nếp nhăn mũi má, và khóe miệng so với bên lành
  • Khám tổng quát, soi tai, sờ nắn các u, bướu vùng hàm
  • Đánh giá chức năng vận động, yêu cầu bệnh nhân: Nâng cao cả hai lông mày (nhíu mày), nhắm chặt cả hai mắt, cười, phồng má, mím môi
  • Biểu lộ cả răng trên và dưới (khi nhăn mặt)
  • Đánh giá chức năng cảm giác đặc biệt, nếu được chỉ định lâm sàng: Cảm giác của mặt và tai, cảm giác vị giác của 2/3 phía trước của lưỡi
    1. Các di chứng của bệnh liệt mặt

Di chứng lâu dài của bệnh liệt dây thần kinh mặt có thể là tình trạng suy yếu cơ mặt kéo dài, co cứng cơ mặt, rối loạn vận động, giảm tiết nước mắt, chảy nước mắt cá sấu, ảnh hưởng đến thẩm mỹ và tâm lý xã hội của người bệnh. Mặc dù liệt mặt có thể phục hồi trong vòng 6 tháng song nếu không được quan tâm và điều trị đúng cách, người bệnh có thể phải mang các di chứng suốt đời – BS.CKI Nguyễn Ngọc Công cho biết.

II. Y HỌC CỔ TRUYỀN

Y học cổ truyền phân ra làm 3 thể theo nguyên nhân gây bệnh: Thể phong hàn, thể phong nhiệt và thể huyết ứ.

  1. Liệt dây VII ngoại biên do lạnh (YHCT gọi là trúng phong hàn ở kinh lạc)

Triệu chứng: Thường sau khi gặp gió lạnh, tự nhiên thấy xuất hiện các triệu chứng của liệt VII ngoại biên: mắt nhắm không kín, miệng méo, uống nước trào ra, rãnh mũi má mờ hoặc mất, nhân trung lệch, bảo bệnh nhân cười, nhe răng thấy sự mất cân đối hai bên mặt rõ hơn…. Toàn thân có hiệntượng sợ lạnh, sợ gió, rêu lưỡi trắng, mạch phù

Pháp: Khu phong, tán hàn, thông kinh lạc (hành khí, hoạt huy ết)

Phương: Bài 1: Ké 12, Tang ký sinh 12, Q. chi 8, B. chỉ 8, Kê huyết đằng 12, Ngưu tất 12, Uất kim 8, Tr. bì 8, Hương phụ 8

Bài 2: Đại tần giao thang gia giảm (Khương hoạt 8, Độc hoạt 8, Tần giao 8, Bạch chỉ 8, Trần bì 8, Ngưu tất 12, Đương quy 8, Thục địa 12, Bạch thựơc 8, Xuyên khung 8, Đẳng sâm 12, Phục linh 8, Cam thảo 6, Bạch truật 12)

Ngoài ra, có thể dùng các bài cổ phương khác có tác dụng khu phong tán hàn ở biểu như Quế chi thang, Ma hoàng thang gia giảm thêm các vị hành khí hoạt huy ết

Châm cứu: ôn châm các huyệt:

Huyệt tại chỗ: Toản trúc xuyên Tình minh, Dương bạch xuyên Ngư yêu, Ty trúc không xuyên Đồng tử liêu (thái dương); Ế phong xuyên Hạ quan (Quyền liêu);

Quyền liêu xuyên Nghinh hương, Địa thương xuyên Giáp xa. Nhân trung, Thừatương, Thừa khấp

Huyệt toàn thân: Hợp cốc bên đối diện, Phong trì

Ngoài ra, nếu bị bệnh lâu nên thuỷ châm vitamin nhóm B vào các huyệt trên

Xoa bóp bấm huyệt: sử dụng các động tác đã học tác động lên mặt bên liệt (chú ý hướng tác động từ giữa sang bên), day bấm các huyệt trên

  1. Liệt dây VII ngoai biên do nhiễm khuẩn:

Triệu chứng: Bệnh nhân có các triệu chứng của liệt VII ngoại biên như: mắt nhắmkhông kín, miệng méo, uống nước trào ra, rãnh mũi má mờ hoặc mất, nhân trung lệch, bảo bệnh nhân cười, nhe răng thấy sự mất cân đối hai bên mặt rõ hơn…Toàn thân: có sốt, sợ nóng, rêu lưỡi trắng dầy, mạch phù sác (Chú ý: hết sốt chỉ còn các triệu chứng của liệt dây VII nên phải chú ý hỏi các triệu chứng khởi bệnh)

Pháp: Đang có sốt →khu phong, thanh nhiệt, thông kinh lạc; Hết sốt →Khu phong, bổ huyết, thông kinh lạc

Phương: Kim ngân hoa 16, Bồ công anh 12, Thổ phục linh 12, Ké 12, Xuyên khung 12, đan sâm 12, Ngưu tất 12, Trần bì 12

Giai đoạn hêt sốt có thể dùng bài này giảm bớt 1-2 vị khu phong, thanh nhiệt: gia thêm các vị thuốc bổ huyết như Bạch thược, Đương quy, Tang thầm, Sinh địa hoặc bài Tứ vật thang

Châm cứu:

Hình minh họa

Huyệt tại chỗ: Toản trúc xuyên Tình minh, Dương bạch xuyên Ngư yêu, Ty trúc không xuyên Đồng tử liêu (Thái dương); Ế phong xuyên Hạ quan (Quyền liêu);

Quyền liêu xuyên Nghinh hương, Địa thương xuyên Giáp xa. Nhân trung, Thừa tương, Thừa khấp

Huyệt toàn thân: Phong trì, Hợp cốc đối bên, Khúc trì, Nội đình

Thuỷ châm vitamin C, Vitamin B

Xoa bóp bấm huyệt: sử dụng các động tác đã học tác động lên mặt bên liệt (chú ý hướng tác động từ giữa sang bên), day bấm các huyệt Khúc trì, Nội đình

  1. Liệt dây VII ngoại biên do sang chấn: YHCT gọi là ứ huyết ở kinh lạc

Triệu chứng: Bệnh nhân có các triệu chứng của liệt dây VII ngoại biên (mắt nhắm không kín, miệng méo, uống nước trào ra, rãnh mũi má mờ hoặc mất, nhân trung lệch, bảo bệnh nhân cười, nhe răng thấy sự mất cân đối hai bên mặt rõ hơn…) xuất hiện sau một sang chấn như ngã, bị đánh, mổ vùng hàm mặt, xương chũm

Pháp: Hoạt huyết, hành khí

Phương: Đan sâm 12, Xuyên khung 12, Ngưu tất 12, Tô mộc 8, Uất kim 8, Chỉ xác 6, Trần bì 6, Hương phụ 6

Có thể dùng bài Đào hồng tứ vật gia thêm các vị hành khí như Trần bì, Hương phụ, Chỉ xác…

Châm cứu:

Huyệt tại chỗ: Toản trúc xuyên Tình minh, Dương bạch xuyên Ngư yêu, Ty trúc không xuyên Đồng tử liêu (Thái dương); Ế phong xuyên Hạ quan (Quyền liêu); Quyền liêu xuyên Nghinh hương, Địa thương xuyên Giáp xa. Nhân trung, Thừatương, Thừa khấp

Huyệt toàn thân: huyết hải, túc tam lý

Xoa bóp – bấm huyệt: sử dụng các động tác đã học.

Bs Nguyễn Văn Lâm

 

 

 


XEM THÊM

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Fill out this field
Fill out this field
Vui lòng nhập địa chỉ email hợp lệ.
You need to agree with the terms to proceed