Y học cổ truyền không nhìn con người như một cơ thể tồn tại biệt lập, mà đặt con người trong mối tương ứng với trời đất và tự nhiên. Thiên khí biến đổi thì nhân khí cũng biến đổi; bốn mùa luân chuyển thì khí huyết, âm dương và công năng tạng phủ cũng cần thuận theo đó mà điều hòa. Vì vậy, dưỡng sinh theo mùa không chỉ là ăn gì, uống gì hay dùng gì, mà trước hết là thuận thời, thuận khí.
Xuân khí chủ sinh, Hạ khí chủ trưởng, Trường Hạ chủ hóa, Thu khí chủ thu, Đông khí chủ tàng. Đến mùa Thu, thiên khí bắt đầu chuyển từ phát tán sang thu liễm; vạn vật kết quả, dương khí dần quy về bên trong, chuẩn bị cho sự tàng chứa của mùa Đông.
Trong Ngũ hành, Thu thuộc Kim, Phế cũng thuộc Kim. Bởi vậy, người xưa lấy Phế ứng với mùa Thu và coi “Thu dưỡng Phế” là một nguyên tắc quan trọng trong dưỡng sinh theo thời. Nhưng nếu chỉ hiểu mùa Thu dễ ho nên cần giữ phổi thì mới chỉ chạm đến phần ngọn. Muốn hiểu sâu “Thu dưỡng Phế”, cần hiểu khí của mùa Thu và đặc tính của Phế trong hệ thống Tạng tượng.
Thu là mùa của thu liễm. Nếu Xuân là sinh phát, Hạ là trưởng dưỡng thì đến Thu, sự phát tán bắt đầu chuyển hướng, thiên khí từ hướng ngoại dần quy về thu giữ. Đây là quy luật của âm dương: có phát tất có thu, có trưởng tất có tàng.
Vì vậy, “thu” không chỉ là tên một mùa mà còn biểu thị trạng thái vận động của khí cơ. Con người sống giữa trời đất nên khi thiên khí chuyển sang thu liễm, nhân khí cũng cần biết thu liễm theo. Tuy nhiên, thu liễm không đồng nghĩa với bế tắc. Cái cần thu là sự phát tán quá mức, cái cần giữ là tinh, khí và tân dịch; còn khí cơ vẫn phải thông đạt.
Trong Ngũ hành, Kim có tính thanh túc, thu liễm, giáng hạ; Phế thuộc Kim nên công năng của Phế cũng thể hiện rõ đặc tính này. Phế chủ khí, chủ tuyên phát và túc giáng: một mặt đưa khí, vệ khí và tân dịch ra ngoài, một mặt làm khí cơ đi xuống, thủy đạo được thông điều. Tuyên phát và túc giáng là hai phương diện không thể tách rời. Có tuyên mới có thông, có giáng mới có thuận.
Bởi Phế chủ khí nên mùa Thu càng cần chú ý bảo vệ Phế khí. Trong YHCT, khí không chỉ được hiểu là không khí hít vào. Phế tiếp nhận thanh khí của tự nhiên, đồng thời phối hợp với Tỳ trong quá trình sinh hóa khí hậu thiên. Tỳ Vị là nguồn sinh hóa khí huyết, đưa tinh vi lên trên; Phế tiếp nhận thanh khí, hai nguồn kết hợp để duy trì hoạt động của khí.

Vì vậy, dưỡng Phế không thể tách khỏi dưỡng Tỳ. Ăn uống thất thường, quá nhiều đồ sống lạnh, béo ngọt làm tổn thương Tỳ vận, lâu ngày cũng ảnh hưởng đến nguồn sinh hóa khí. Ngược lại, Tỳ vận kiện thì Phế khí mới có nguồn để được nuôi dưỡng.
Mùa Thu còn có một đặc điểm đặc biệt: Táo khí. Trong lục khí, Táo ứng với mùa Thu. Táo có tính khô, dễ hao tổn tân dịch, trong khi Phế là tạng ưa nhuận, ghét táo. Vì vậy, Thu táo đặc biệt dễ ảnh hưởng đến Phế.
Khi táo tà phạm Phế hoặc tân dịch của Phế bị tổn thương, có thể xuất hiện ho khan, ít đờm, đờm dính, khô mũi, khô họng, khát, da khô, đại tiện khô… Nhưng không thể chỉ dựa vào một triệu chứng để kết luận Phế âm hư hay tự ý dùng thuốc tư âm, nhuận Phế. Có thể là ngoại táo phạm Phế, ôn táo, lương táo, Phế âm bất túc hoặc những bệnh cơ khác. Pháp trị vì vậy phải tùy chứng mà lập.
Chính vì Phế ưa nhuận, ghét táo nên dưỡng Phế mùa Thu cần chú ý bảo tồn tân dịch. Nhưng nhuận Phế cũng không đồng nghĩa với việc sử dụng thật nhiều đồ bổ, đồ ngọt hay thuốc tư âm. Tân dịch cần được bảo tồn trong trạng thái điều hòa; quá mức lại có thể trở ngại Tỳ vận. Bởi vậy, dưỡng Phế phải biết cân bằng giữa nhuận và vận, giữa bảo vệ tân dịch và duy trì công năng vận hóa của Tỳ.
Phế còn chủ bì mao và khai khiếu ở mũi. Khi thời tiết chuyển từ nóng sang mát rồi lạnh, cơ thể cần thích nghi với sự thay đổi của ngoại giới. Bảo vệ phần biểu, tránh phong hàn và táo tà xâm nhập, giữ ấm vừa phải, chú ý vùng mũi họng khi thời tiết khô lạnh đều là những cách dưỡng Phế thuận thời.
Tuy nhiên, “Phế chủ bì mao” không có nghĩa mọi bệnh ngoài da đều do Phế, cũng như mọi bệnh lý ở mũi đều chỉ cần điều trị Phế. Tạng tượng là một hệ thống quy nạp chức năng, cần được đặt trong toàn bộ mối quan hệ của khí huyết, âm dương, tạng phủ và kinh lạc.
Phế còn có mối quan hệ sâu sắc với Thận. Phế chủ hô hấp, Thận chủ nạp khí; Phế khí tuyên phát túc giáng, Thận khí có chức năng nạp giữ. Vì vậy, hô hấp bình thường là kết quả của sự phối hợp Phế – Thận, chứ không phải công năng đơn độc của một tạng.
Nhìn rộng ra, dưỡng Phế mùa Thu không nên biến thành câu chuyện “ăn gì bổ phổi”. Dưỡng Phế trước hết là dưỡng khí, bảo vệ tân dịch, điều hòa tuyên phát – túc giáng, bảo vệ phần biểu và thuận theo khí thu liễm của thiên nhiên.
Sau sự phát tán mạnh của mùa Hạ, mùa Thu cũng là lúc cơ thể cần dần chuyển sang trạng thái điều độ hơn. Vận động vẫn cần thiết nhưng không nên quá sức hay đại hãn. Ăn uống thanh đạm, phù hợp thể trạng, chú ý bảo vệ Tỳ Vị và tân dịch. Ngủ nghỉ điều độ, hạn chế thức khuya để tránh hao tổn khí huyết.
Ngay cả tâm thần cũng cần thu liễm. Nếu Xuân quý ở “sinh”, Hạ quý ở “trưởng”, thì Thu quý ở “thu”. Không chỉ thu khí mà còn thu thần, giảm sự phân tán và tiêu hao không cần thiết, để cơ thể từng bước trở về trạng thái trầm tĩnh hơn, chuẩn bị cho sự “tàng” của mùa Đông.
Xuân sinh – Hạ trưởng – Trường Hạ hóa – Thu thu – Đông tàng. Can ứng Xuân, Tâm ứng Hạ, Tỳ ứng Trường Hạ, Phế ứng Thu, Thận ứng Đông. Đây không phải sự phân chia máy móc giữa năm mùa và năm tạng, mà là một hệ thống phản ánh sự vận động của âm dương, khí cơ và sinh trưởng tàng hóa. Vì vậy, “Thu dưỡng Phế” không chỉ có nghĩa là phòng ho hay giữ ấm đường hô hấp. Khi thiên khí bắt đầu thu liễm, nhân khí cũng nên thuận theo mà thu; khi Thu táo dễ tổn thương tân dịch, cần biết bảo vệ sự nhuận dưỡng của Phế; khi Phế chủ khí và chủ tuyên phát túc giáng, cần giữ cho khí cơ thông đạt. Thuận thiên thời mà dưỡng Phế, dưỡng Phế mà điều khí, điều khí mà bảo tân dịch.























