1. BỤNG HAY KÊU ỌC ẠCH, SÔI BỤNG
Nhiều cô bác nghĩ sôi bụng chỉ là đói, nhưng thực ra đây là lúc Tỳ Vị vận hoá kém.
Tỳ yếu → thức ăn ứ lại → sinh lên men, sinh khí. Khí không giáng xuống được mà quẩn quanh trong bụng, gây ọc ạch, đầy hơi, trướng tức, đôi khi kèm cảm giác đi ngoài chưa hết phân.
Âm thanh ấy không phải đói, mà là Tỳ Vị đang báo mệt.
2. ĂN KHÔNG TIÊU, CHẬM TIÊU, TỨC BỤNG SAU ĂN
Cô bác ăn xong mà thấy:
– Tức tức, nặng vùng thượng vị
– Hay muốn ợ hơi
– Ăn xong đã thấy mệt, không còn muốn ăn bữa sau
– Chỉ cần ăn no một chút là người uể oải
Những biểu hiện này cho thấy khí Tỳ đã suy, dương lực yếu, việc vận hóa kém, từ đó sinh đàm thấp ứ trệ trong bụng, khiến tiêu hóa ngày càng chậm và nặng nề hơn.
3. PHÂN SỐNG, LÚC LỎNG LÚC TÁO
Tỳ hư thì không giữ được tinh, thấp trọc lại dồn xuống ruột. Vì vậy, cô bác thường gặp:
– Phân nát, sệt, có mùi chua
– Thức ăn còn lợn cợn, tiêu hóa chưa kỹ
– Lúc thì táo, lúc lại lỏng, dễ đau bụng rồi phải đi ngoài
Những biểu hiện này cho thấy Tỳ đã yếu khả năng kiện vận, không nhiếp được thủy, khiến thấp khí dồn xuống Đại Tràng, làm ruột hoạt động thất thường.
4. Ợ NÓNG, TRÀO NGƯỢC
Theo Đông y, Vị khí vốn phải giáng xuống. Khi Tỳ yếu, vận hóa kém, thức ăn ứ trệ, sinh nhiệt và sinh khí nghịch. Khí không đi xuống mà bốc ngược lên trên, gây ra:
– Ăn xong hay ợ hơi, ợ chua, nóng rát sau xương ức
– Miệng đắng, cổ họng vướng, nhất là về chiều tối hoặc khi nằm
– Càng ăn no, càng dễ trào lên
5. ĐAU DẠ DÀY ÂM Ỉ, TĂNG KHI ĐÓI HOẶC SAU ĂN
Cơn đau kiểu này thường không dữ dội, nhưng lại dai dẳng và khó chịu. Cô bác có thể thấy:
– Đau lâm râm vùng thượng vị, lúc đói thì cồn cào, ăn vào lại tức
– Đau rõ hơn khi ăn đồ lạnh, đồ sống hoặc ăn vội
– Uống nước ấm hay chườm ấm thì thấy dễ chịu hơn
Đây là dấu hiệu cho thấy Tỳ đã hư, không sinh đủ khí để nuôi dưỡng Vị. Khi Vị thiếu khí, thiếu lực làm việc, dạ dày sẽ đau theo kiểu mạn tính, dễ tái đi tái lại.
6. LƯỠI BỆU, RÊU TRẮNG DÀY HOẶC VÀNG ẨM
Chỉ cần soi gương mỗi sáng, cô bác cũng có thể nhận ra phần nào tình trạng Tỳ Vị của mình.
– Lưỡi nhợt, bệu, hằn răng, rêu trắng dày → Tỳ dương hư, thấp tích
Huyền Linh























