Cây lựu (Punica granatum) là loại cây ăn quả thân gỗ nhỏ, có nguồn gốc từ Tây Nam Á, nổi tiếng với hoa đỏ rực rỡ và quả mọng nước nhiều hạt, giàu vitamin, chất chống oxy hóa, mang ý nghĩa phong thủy về sự sung túc, may mắn, được trồng rộng rãi để làm cảnh, lấy quả và làm thuốc. Cây dễ trồng, chịu hạn tốt nhưng sợ úng, ưa nắng, phát triển mạnh ở vùng nhiệt đới/ôn đới, thích hợp trồng vườn, chậu cảnh hoặc ban công.
Theo Y học cổ truyền
Hoa lựu: Trong Y học cổ truyền có tên là thạch lựu. Hoa vị chua sáp, tính bình, có công năng chủ trị các chứng bệnh như tỵ huyết (chảy máu cam), thổ huyết (nôn ra máu), kinh nguyệt không đều, lỵ tật, bạch đới (khí hư), viêm tai giữa, đau răng…
Quả lựu: Theo Y học cổ truyền, có vị chua ngọt, tính ấm; vào 2 kinh vị và đại tràng; có tác dụng sinh tân chỉ khát (làm tăng thủy dịch trong cơ thể và giải khát). Nếu là loại lựu chua, còn có thêm tác dụng sáp trường (làm săn niêm mạc ruột), chỉ huyết (cầm máu), dùng chữa hoạt tả (tiêu chảy), kiết lỵ lâu ngày, băng lậu, khí hư, đới hạ. Loại quả ngọt, ngoài tác dụng sinh tân chỉ khát và chữa kiết lỵ lâu ngày, còn có thêm tác dụng sát trùng, có thể dùng chữa đau bụng do một số loại ký sinh trùng gây nên.
Vỏ quả lựu: Trong Y học cổ truyền có tên là thạch lựu bì, thạch lựu xác, toan thạch lựu bì.
Thạch lựu bì có vị chua chát, tính ấm; vào 2 kinh đại tràng và thận. Công dụng sáp tràng (làm săn se niêm mạc), chỉ tả (cầm tiêu chảy), chỉ huyết (cầm máu), khu trùng (trừ giun sán), chuyên dùng để chữa các chứng bệnh như cửu tả cửu lỵ (lỏng lỵ mạn tính), thoát giang (lòi dom), đới hạ (khí hư), trùng tích phúc thống (đau bụng do giun sán)…
Nhìn chung, các bộ phận của cây lựu, quả, vỏ quả, vỏ rễ, hoa và lá đều có thể sử dụng làm thuốc, nhưng thông dụng nhất là quả và vỏ quả. Tuy nhiên dược liệu lưu ý không dùng cho người bị táo bón
Các Bài thuốc từ cây lựu
+ Chữa nổi mày đay, mẩn ngứa do nhiệt: Vỏ quả lựu tươi, ké đầu ngựa, bèo cái, bồ công anh, thổ phục linh, hà thủ ô, mỗi loại 12g xác ve sầu, mã đề, cam thảo đất, mỗi thứ 8g. Cho tất cả vào nồi ngâm với 750ml nước trong 15 phút, sắc còn 200 ml, chia 2 lần uống trước bữa ăn. Mỗi liệu trình 3-5 ngày.
+ Chữa viêm tiền liệt tuyến: Hoa lựu tươi 30g nấu canh với thịt lợn ăn hàng ngày.
+ Trị ho do nhiễm lạnh: Hoa lựu trắng tươi 24 bông, đường phèn 15g. Cho tất cả vào nồi ngâm với 500ml nước trong 15 phút, sắc còn 150ml, chia 2 lần uống trước khi đi ngủ. Mỗi liệu trình 7-10 ngày
Tẩy giun kim, giun đũa, giun tóc: Vỏ quả lựu 15g; binh lang (hạt cau già) 10g. Sắc 3 lần rồi cô lại còn 100ml, thêm đường đủ ngọt (20g). Uống vào buổi tối trước khi đi ngủ (sau khi ăn 3 giờ), liên tục trong 3 ngày.
+ Chữa chảy máu cam: Hoa lựu 6g, rửa sạch cho 250ml nước, sắc còn 100ml, chia 2 lần uống trong ngày. Mỗi liệu trình 5-7 ngày.
+ Chữa miệng hôi, viêm amiđan: Quả lựu sắc lấy nước đặc, ngậm và nuốt từ từ, nhiều lần trong ngày.
+ Chữa bỏng nhẹ: Thạch lựu hoa hoặc thạch lựu bì, lượng vừa đủ, sấy khô tán bột, trộn với dầu vừng bôi vào nơi tổn thương.
+ Chữa kiết lỵ lâu ngày, đại tiện ra máu: Quả lựu tươi 1-2 quả, để cả vỏ, đập nhỏ, sắc nước uống nhiều lần, uống trong ngày.
Hoặc: Quả lựu nướng khô, nghiền bột mịn, bảo quản nơi khô ráo; ngày uống 3 lần, mỗi lần 12g, chiêu thuốc bằng nước cơm hoặc cháo loãng.
+ Hỗ trợ chức năng tiêu hóa, trị tiêu chảy: Quả lựu tươi 2 trái, bóc bỏ vỏ sắc với 500ml nước, đun nhỏ lửa cho cạn còn 150ml, thêm mật ong vừa đủ. Chia ra 2-3 lần uống trong ngày.
+ Chữa tiểu són, tiểu rắt, tiểu không tự chủ: Quả lựu sao tồn tính (bên ngoài cháy đen, bên trong vẫn giữ nguyên chất), tán bột; ngày uống 3 lần, mỗi lần dùng 6g, hòa với nước ấm.
+ Chữa loét miệng, nhiệt miệng: Quả lựu sao tồn tính (bên ngoài cháy đen, bên trong vẫn giữ nguyên chất), tán thành bột mịn, bôi vào nơi tổn thương.
+ Chữa thoát giang (sa trực tràng): Thạch lựu bì, thiên căn, mỗi vị 10g, sắc uống trong ngày.
+ Thuốc dùng ngoài: Thạch lựu hoa hoặc thạch lựu bì 30g, phèn chua một chút, sắc kỹ rồi cho thêm một ít bột ngũ bội tử sao, ngâm hậu môn hàng ngày.
+ Trị tiêu chảy: Thạch lựu bì 5g, sơn tra 10g. 2 vị nghiền bột mịn, chia thành 2 phần uống với nước ấm. Có thể thêm đường cho dễ uống.
+ Hỗ trợ điều trị bệnh sỏi thận: Rễ lựu 30g, kim tiền thảo 30g, sắc nước uống trong ngày.
+ Trị viêm nhiễm ngoài da lở loét chảy mủ: Lá lựu, sấy khô, nghiền thành bột mịn, rắc vào nơi tổn thương.
+ Chữa phế ung (áp-xe phổi): Thạch lựu hoa 6g, ngưu tất 6g, nhẫn đông đằng 15g, bách bộ 9g, bạch cập 30g, đường phèn 30g, sắc nước uống.
Lưu ý khi sử dụng cây lựu
Một số lưu ý khi sử dụng thạch lựu trong điều trị bệnh bao gồm:
– Không sử dụng rễ lựu cho những người thực tà, trẻ nhỏ và phụ nữ mang thai hay người có sức khỏe yếu.
– Vỏ rễ thạch lựu có tính độc nên tránh sử dụng cho những người có vấn đề về dạ – dày.
– Tránh sử dụng củ cải trong thời gian dùng các bài thuốc từ thạch lựu để điều trị bệnh.
– Không dùng đồng thời các vị thuốc điều trị tăng huyết áp với thạch lựu dược liệu, nếu có ý định sử dụng thì cần tham khảo ý kiến của bác sĩ Y học cổ truyền.
– Không sử dụng độc vị thạch lựu bì cho những trường hợp mắc lỵ mới phát.
Nguyễn Thụ -VPH























