Sỏi tiết niệu là bệnh lý khá phổ biến, gây nhiều đau đớn và biến chứng nguy hại nếu không được điều trị kịp thời. Bài viết này cung cấp cái nhìn tổng quan về nguyên nhân, triệu chứng, tác hại cũng như các phương pháp điều trị sỏi tiết niệu. Bên cạnh các tiến bộ của y học hiện đại, Y học cổ truyền cũng có nhiều bài thuốc hiệu quả, giúp thanh nhiệt, hóa kiên, lợi niệu và hỗ trợ loại bỏ sỏi. Nội dung sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn và lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp, góp phần nâng cao sức khỏe và chất lượng cuộc sống.
- Hệ tiết niệu của con người gồm hai thận, hai niệu quản hai bên, bàng quang và cuối cùng là niệu đạo. Khi sỏi xuất hiện tại bất kỳ vị trí nào của hệ tiết niệu nghĩa là đã mắc sỏi tiết niệu. Như vậy sỏi tiết niệu bao gồm sỏi thận, sỏi niệu quản, sỏi bàng quangvà sỏi niệu đạo.
- Nguyên nhân gây nên sỏi tiết niệu
Sỏi tiết niệu có nhiều nguyên nhân. Sự hình thành sỏi thường do các muối khoáng hòa tan (canxi, oxalat, urat…) trong nước tiểu. Khi xuất hiện những rối loạn về mặt sinh lý bệnh kết hợp những yếu tố thuận lợi, như giảm lưu lượng nước tiểu, nhiễm khuẩn tiết niệu, thay đổi pH nước tiểu, dị dạng đường niệu, yếu tố di truyền… thì các muối khoáng hòa tan sẽ kết tinh, hình thành một nhân nhỏ, sau đó lớn dần thành sỏi tiết niệu.
Những người dễ mắc sỏi tiết niệu gồm:
Những người có bất thường bẩm sinh đường tiết niệu.
Gia đình có người mắc sỏi tiết niệu.
Bản thân từng trải qua can thiệp đường tiết niệu.
Bị viêm đường tiết niệu nhiều lần.
Người uống ít nước, đặc biệt là người cao tuổi.
Người nằm bất động lâu ngày.
Người bị mắc các bệnh lý rối loạn chuyển hóa (toan chuyển hóa mạn, tăng canxi niệu,…).
Đang sử dụng một số thuốc.
Người lao động trong môi trường nóng bức.
Người có thói quen thường xuyên nhịn tiểu.
- Triệu chứng khi mắc sỏi tiết niệu?
Đau là biểu hiện hay gặp nhất khi mắc sỏi tiết niệu
Tùy vị trí sỏi hình thành mà có các biểu hiện khác nhau, từ không có triệu chứng (bệnh nhân tình cờ phát hiện sỏi khi đi khám) đến những triệu chứng rất rầm rộ. Nhìn chung bệnh nhân thường xuất hiện các triệu chứng sau:
Đau: là biểu hiện hay gặp nhất, hay gặp ở vùng thắt lưng. Đau có thể âm ỉ kéo dài hoặc thành cơn đột ngột dữ dội, lan ra phía trước và xuống vùng bẹn sinh dục. Cơn đau có thể xuất hiện tự nhiên, nhưng thường sau vận động gắng sức, cơn đau kéo dài vài phút, có thể tự hết hoặc cần sự hỗ trợ của thuốc.
Bất thường về đi tiểu: bệnh nhân có thể đái buốt (đái buốt cuối bãi đái hay đái buốt toàn bộ bãi đái), đái ngắt ngừng (đang tiểu bỗng nhiên bị ngừng lại, thay đổi tư thế lại tiểu được tiếp), đái khó, bí đái hoàn toàn, đái đục, đái máu (có thể nước tiểu có màu hồng đỏ hoặc chỉ phát hiện được hồng cầu trong nước tiểu nhờ xét nghiệm).
Bệnh nhân có thể có sốt do nhiễm khuẩn.
4.Tác hại của sỏi tiết niệu
Sỏi tiết niệu gây ra nhiều biến chứng nguy hại:
Sỏi di chuyển, cọ xát vào niêm mạc đường niệu gây phù nề, chảy máu, là điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập, gây viêm đường tiết niệu.
Sỏi kẹt lại ở vị trí hẹp, gây bí đái cấp hoặc mạn.
Chức năng thận của bệnh nhân có thể bị suy giảm, khiến bệnh nhân bị suy thận cấp hoặc mạn.
5. Điều trị Sỏi tiết niệu
Sỏi tiết niệu hoàn toàn có thể điều trị được, hiệu quả nhất là khi sỏi còn nhỏ. Nếu sỏi đã lớn, gây nhiều biến chứng, việc điều trị sẽ trở nên khó khăn, phức tạp, chi phí tốn kém, ảnh hưởng lớn tới kết quả cuối cùng cũng như chất lượng cuộc sống người bệnh. Các phương pháp điều trị sỏi tiết niệu bao gồm điều trị nội khoa, can thiệp ngoại khoa, mổ mở hoặc mổ nội soi:
Điều trị nội khoa có thể được cân nhắc với những trường hợp sỏi kích thước nhỏ < 5mm, chưa gây biến chứng.
Ngày nay y học hiện đại đã có nhiều bước tiến lớn, phương pháp mổ mở với nhiều rủi ro ngày càng ít được áp dụng. Thay vào đó là các kỹ thuật mới, an toàn hơn, ít xâm lấn hơn như: nội soi tán sỏi thận qua da chuẩn thức (Standard PCNL), nội soi tán sỏi thận qua da tối thiểu (Mini PCNL), nội soi niệu quản (Ureteroscopy), tán sỏi ngoài cơ thể (ESWL).
Bài thuốc đông y trị bệnh sỏi tiết niệu
Theo các bài thuốc Đông y, bệnh sỏi tiết niệu điều trị theo nguyên tắc thanh nhiệt hóa kiên là chủ yếu. Tùy vào các thể bệnh sỏi tiết niệu sẽ áp dụng bài thuốc điều trị nhất định.
1 Thể khí huyết ứ trệ:
Đau quặn vùng thắt lưng, bụng, đau lan xuống bộ phận sinh dục ngoài
Nước tiểu lẫn máu màu đỏ thẫm, hoặc lẫn máu cục
Tiểu rắt, tiểu khó, đau
Sử dụng bài thuốc:
Tứ vật đào hồng gia vị
Thục địa 12g
Bạch thược 15g
Xuyên khung 12g
Đương quy 12g
Đào nhân 8g
Hồng hoa 10g
Chỉ thực 10g
Đại phúc bì 12g
Uất kim 12g
Kê nội kim 12g
Liên kiều 12g
Sắc toàn bộ nguyên liệu trên, 1 ngày uống 1 thang.
2 Thể thấp nhiệt uẩn kết
Triệu chứng:
Bị sốt nhẹ hoặc sốt cao, vùng bụng dưới đau tức,
Tiểu rắt, tiểu buốt, nước tiểu có màu đục, lẫn máu hoặc ra sỏi, mạch huyền hoạt hoặc hoạt sác
Rêu lưỡi vàng nhớt.
Có thể thấp mạnh hơn nhiệt: Người bệu, rêu lưỡi nhớt, nước tiểu có màu đục, da nhớp nháp mồ hôi.
Có thể nhiệt mạnh hơn thấp: Bị sốt, da khô, rêu lưỡi vàng khô, thường xuyên khát nước.
Sử dụng bài thuốc:
Thạch vĩ tán gia vị.
Thạch vĩ 15g
Mộc thông 15g
Xa tiền tử 20g
Cù mạch 12g
Hoạt thạch 12g
Bạch linh 12g
Hoàng bá 10g
Cam thảo 08g
Bài thuốc trên sắc uống, ngày 01 thang.
3 Thể thận hư ứ nước
Triệu chứng:
Đau bụng và lưng âm ỉ,
Đi tiểu tia nước tiểu yếu, bụng dưới tức đau,
Cơ thể mệt mỏi
Tình trạng bệnh nặng gây ra các triệu chứng khác như sợ lạnh, chân và tay lạnh, chất lưỡi nhợt bệu, mạch nhược.
Bài thuốc:
Tế sinh thận khí hoàn gia vị
Thục địa 12g
Hoài sơn 12g
Sơn thù 10g
Đan bì 12g
Bạch linh 10g
Trạch tả 15g
Phụ tử 06g
Quế chi 06g
Xa tiền tử 20g
Ngưu tất 12g
Bài thuốc trên sắc uống, ngày 01 thang.
4 Thận âm hư
Triệu chứng:
Đau bụng, đau lưng, lúc đau lúc không
Bị hoa mắt, ù tai
Cơ thể trong trạng thái buồn bực
Miệng khô, ít rêu lưỡi, mạch vi sác
Tiểu ít hoặc bị đái rắt, chất lưỡi hồng
Phương pháp điều trị:
Tư âm bổ thận, thông lâm bài thạch.

Bài thuốc điều trị:
Tả quy hoàn gia vị.
Thục địa 12g
Hoài sơn 12g
Sơn thù 10g
Kỷ tử 10g
Ngưu tất 12g
Thỏ ty tử 12g
Lộc giác giao 12g
Quy bản 12g
Bài thuốc trên sắc uống, ngày 01 thang.
Để tiện cho bệnh nhân sử dụng tại phòng khám YHCT của tỉnh hội đã sản xuất Trà Bài thạch lâm dạng túi lọc để cho bệnh nhân dễ sử dụng nhưng vẫn có hiệu quả
Bs Trần Đức Tuấn























